TIỀM  THỨC  VÀ…CẦU  NGUYỆN

Chúa Giê Su cùng các tông đồ đi lên Gierusalem và khi từ đền thờ đi ra, ngang qua cây vả  thì  thấy nó đã héo khô.“ Ông Phê Rô  liền thưa với Chúa: Kìa Thầy xem, cây vả Thầy rủa nó hôm qua, nay đã  chết khô rồi ! Đức Giê Su nói với các ông: Các con  hãy tin vào Thiên Chúa. Thầy bảo thật  các con, nếu có ai nói với núi này: Hãy dời đi và lăn nhào xuống biển mà trong lòng chẳng  chút hồ nghi  nhưng tin rằng điều mình  xin  sẽ xảy ra  thì sẽ được như ý. Vì thế, Thầy nói với  các con, tất cả những gì  các con  cầu xin, các con cứ tin là mình đã được rồi thì sẽ  được như ý” ( Mc 11, 20 -23 ).

Nhân  vụ việc cây vả bị héo  do một  lời nguyền, Chúa Giê Su  muốn nói tới giá trị vô song của việc  cầu nguyện. Khi ta  cầu nguyện mà trong lòng không một chút hồ nghi thì hãy  vững tin rằng lời cầu ấy đã được Thiên Chúa nhậm lời. Đặt lòng tin nơi Thiên Chúa, đó là đức tin căn bản của  Ki Tô Hữu, thế nhưng tin nơi Thiên Chúa là gì nếu  chẳng phải là  tin  sự hiện hữu của Ngài ? “ Vả, không có đức tin thì  chẳng  thể  đẹp lòng Ngài. Vì kẻ đến cùng  Thiên Chúa cần phải tin rằng Ngài thực hữu  và là Đấng ban thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài” ( Dt 11, 6 ).

Thiên Chúa là Đấng Thực Hữu, Hằng Hữu, chân lý này từ ngàn xưa đã được mạc khải cho tiên tri Moise khi ngài  nêu thắc mắc trước khi được trao sứ mạng dẫn đưa Dân Chúa thoát ách nô lệ Ai Cập:“ Này, tôi sẽ  đi đến dân Itsraen, nói cùng họ rằng: Đức Chúa của tổ phụ  các ngươi sai ta  đến cùng các ngươi, nhưng nếu họ hỏi: Tên Ngài là chi ? thì tôi biết nói với họ làm sao ? Đức Chúa phán: Ta là Đấng Tự Hữu, Hằng Hữu, rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Itsraen như vầy: Đấng Tự Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi” ( Xh 3, 13 -14 ).

Thiên Chúa là Đấng Tự Hữu, Hằng Hữu. Đây là chân lý minh nhiên, không thể  phủ nhận. Thế nhưng Đấng ấy cần phải hết lòng tìm mới gặp, mặc dầu Ngài chẳng ở  đâu  xa mỗi người: “ Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi và ở trong lòng ngươi  tức là Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi thừa nhận Giê Su là  Cứu Chúa  và  lòng ngươi tin  Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại thì ngươi sẽ được cứu. Vì bởi lấy lòng tin mà được nên công chính  và bởi lấy miệng thừa nhận  mà được cứu rỗi” ( Rm 10, 8 -10 ).

Chỉ theo  minh triết Đông Phương, Thiên Chúa được hiểu  như  là “ Đạo” ( Lão Tử, ĐĐK Chương một ) tức Thực Tại Tâm, bất sinh, bất diệt thường hằng ở nơi mỗi người, chúng ta mới hiểu được lời  Chúa Giê Su  nói: Nếu có lòng tin không  chút hồ nghi thì có thể chuyển núi, dời non như  thế ? Tin mà không có sự hồ nghi, chính điều ấy mới  được coi là lòng tin chân thật bởi vì nó phát xuất  từ tận đáy lòng mỗi người. Có hai câu chuyện sau đây, một của Công Giáo, một của Phật Giáo nói về lòng tin tuy rất mực đơn sơ, chất phác  nhưng  đem  lại  vô vàn ơn ích.

Câu chuyện một: Chuyện kể rằng cách đây khá lâu, khoảng 300 năm có một đám người Công Giáo  Nhật Bản, phải chạy trốn sự bách hại  của quan quân  đến một vùng hẻo lánh, hoang vu, rừng sâu nước đục  để  có thể  tiếp tục giữ đạo. Tại đó, họ dựng một ngôi nhà lá tạm bợ, ngày ngày tụ tập Lần Chuỗi Mân Côi với lòng tôn sùng Đức Mẹ cách đặc biệt. Việc tôn sùng này  tiếp tục được lưu truyền  cho con cháu trải qua hết thế hệ này  sang thế hệ khác dù chẳng có Linh Mục hay Kinh Sách gì cả…

…Thời gian trải dài như thế, đến một ngày kia, đời sống đã trở lại bình thường, một nhóm khoảng mười người  có dịp về thăm thành phố Nagasaki. Khi đến viếng một nhà thờ mới xây, được đức cha Petjean đón tiếp, họ hỏi đây có phải là nhà thờ Công Giáo hay không ? Đức cha chỉ tay lên Gian Cung Thánh có tượng Đức Mẹ…đeo Tràng Chuỗi Mân Côi thì họ đồng thanh reo lên: Đây đúng là Đức Mẹ mà cha ông chúng tôi đã sùng kính từ bao đời nay !” ( Nguồn: Tổng Hội Hiệp Sĩ Phatima & Mân Côi ).

Câu chuyện thứ hai nói về “ Những hạt đậu biết nhảy”. Giữa biên giới Tây Tạng và Tây Khương, có một bà lão nghèo sống đơn côi trong một túp lều tranh bên sườn đồi, sống với việc trồng ngô, khoai. Tuy rất nghèo, nhưng  tâm hồn bà luôn hướng về Đức Phật với tâm nguyện  sẽ thoát khỏi kiếp sống  khổ đau. Ngày kia, bà gặp  một khách hành hương  và được truyền thụ cho câu thần chú ngắn với 06 chữ: “ Om Mani Pat Mi Hom” Bà hết sức vui mừng  và cứ  vừa đi vừa  nhẩm câu thần chú suốt trên quãng đường về nhà nhưng lại quên. Thay vì nhẩm “ Hom” lại thành “ Khuya”.

…Để giữ cho Tâm yên tĩnh, không có tạp niệm, bà để hai cái bát trước mặt, một bát đầy đậu nành, một bát không. Mỗi lần bà niệm câu thần chú, bà nhặt một hạt đậu bỏ vào cái bát không, khi hết, bà lại làm ngược lại và cứ thế cho đến hết thời công phu. Không biết vì  năng lực vô song của câu thần chú hay vì sự thành tín của bà, nên sau một thời gian khá lâu, các hạt đậu cứ nhảy từ bát có đậu sang cái bát không một cách tự nhiên, thấy vậy, bà càng hết lòng tin tưởng…

…Ngày nọ, vào lúc chiều tà, có vị cao tăng đi qua, thấy có vầng hào quang tỏa ra bao quanh túp lều và chợt nghĩ hẳn phải có vị thiền sư đang nhập đại định tại đây. Thế nhưng khi bước vào lều, chỉ thấy có một bà lão đang công phu, lắng nghe một lát thì nghe bà niệm câu “ Khuya” thay vì “ Hom”. Vị cao tăng ấy  ngăn lại  và nói bà đã niệm sai rồi, phải là “ Hom” mới đúng. Bà lão nghe theo và đọc lại. Nhưng rồi điều kỳ lạ xảy ra, vị cao tăng ấy đi được một quãng, ngoái đầu  lại  thấy túp lều tối om om. Ông biết mình đã lầm  nên quay lại và nói: Tôi sai rồi, bà cứ đọc “ Khuya” như trước  là đúng. Bà lão chân thật nghe theo và tháy lòng mình tràn đầy hoan hỉ như trước. Thế rồi ánh hào quang lại  bao trùm túp lều” ( Nguồn: TinhDo.Online ).

Qua hai chuyện kể trên, có câu hỏi cần đặt ra: Điều kỳ  diệu  xảy ra là do năng lực của Kinh Mân Côi, của  Câu Thần Chú  hay  của người tụng đọc ? Xin thưa  tất nhiên  phải là… cả hai, bởi vì nếu năng lực đã săn có ở nơi chân ngôn ( Lời Chúa ) thì bất cứ ai tụng đọc  cũng  sẽ  có được điều kỳ diệu ? Còn nếu bảo là năng lực ấy là ở nơi người đọc thì đọc câu nào chẳng được, cần  đến  chân ngôn làm gì ? Điều này cho thấy một yếu tố hết sức quan trọng đó là lòng tin, không có lòng tin thì không thể  có sự kỳ diệu. Bằng chứng rõ nhất cho thấy điều này đó là Kinh Mân Côi của người Công Giáo. Kinh Nguyện này đã được Đức Mẹ trong tất cả những lần hiện ra, từ Lộ Đức cho đến Phatima v.v…Ngài đều khuyên nhủ con cái siêng năng Lần Hạt  hầu được cứu thoát. Thế nhưng, dường  như lời khuyên tha thiết của Đức Mẹ  chẳng có mấy người hưởng ứng, nhất là những con người tự nhận mình là…trí thức !!!???

Lý do quan trọng nhất khiến cho Kinh Mân Côi ngày nay không còn được ái mộ  thực hành đó là do  ảnh hưởng  Não Trạng Duy Lý của thời đại. Với Duy Lý thì  Đức Tin  đương nhiên  sẽ phải đội nón ra đi và khi Đức Tin không còn thì Kinh Mân Côi cũng  chẳng  có  tác dụng gì nữa !  Sở dĩ  người Tin Lành không bao giờ đọc Kinh Mân Côi dù chỉ một Kinh Kính Mừng. Bởi vì cách riêng  họ không tin Đức Mẹ  Trọn Đời Đồng Trinh và cách chung là không có lòng kính mến Ngài.

Riêng với giới trí thức Công Giáo hiện nay cũng không…chịu Lần Hạt, do ảnh hưởng của quan niệm…Đọc Kinh MC thì phải đi dôi với việc…chiêm ngắm, không chiêm ngắm, Kinh Mân Côi  chỉ còn là cái xác vô hồn, bị Chúa quở trách là dân này chỉ tôn thờ Ta ngoài môi ngoài miệng. Đang khi đó, chiêm ngắm hay  suy niệm  chỉ  là công việc của Lý Trí, chẳng quan hệ gì với Đức Tin chân thật.

Trở lại với  hai câu chuyện trên đây  cho thấy  chính  Đức Tin hay nói đúng hơn,  lòng thành tín của  những người Công Giáo Nhật Bản chạy loạn  hay của bà lão nghèo tại biên giới Tây Tạng đã làm nên điều kỳ diệu lạ lùng  như thế. Như đã  biết: Lòng thành tín  có nghĩa  là Tin mà không một chút hồ nghi phát xuất từ đáy lòng con người. Đáy lòng ấy, Khoa Tâm Lý  gọi đích danh nó là Tiềm Thức ( Subconsscious ).

Con người ta gồm  hai  phần, thể xác và tinh thần. Thể xác là phần hữu hình có thể nhận biết, còn  tinh thần  thì  hầu như không thể.. Trong phần tinh thần tức tư tưởng, nghĩ suy của  con người lại chia ra hai bình diện Ý Thức và Tiềm Thức. Tuy thuộc hai bình diện khác nhau nhưng lại gắn chặt không rời. Phần Ý Thức ví như  cái chóp đỉnh của tảng băng trôi trên mặt biển chỉ chiếm khoảng 05 %, còn phần Tiềm Thức là phần chìm sâu dưới nước chiếm tới 95% còn lại. Hoạt động của Tiềm Thức nơi cơ thể mỗi người hết sức sâu kín, mịt mờ  từ hơi thở ra, hít vào cho đến các cơ quan lục phủ, ngũ tạng, chúng ta không chủ động điều khiển nhưng nó vẫn có thể hoạt động bền bỉ và trơn tru trong suốt mấy mươi năm trời. Các cơ quan ấy không chỉ đem lại sức sống cho cơ thể mà còn đem lại cả niềm khổ đau lẫn hạnh phúc cho con người. Chẳng hạn,  Bộ Ruột, đó không đơn thuần chỉ là cơ quan tiêu hóa và hấp thu nhưng Ruột còn  được mệnh danh là bộ não thứ hai, trong nó chứa đựng hơn 100 triệu tế  bào thần kinh. Hoạt động của chúng  tác động không ngớt cả ngày lẫn đêm  đến trạng thái tâm lý của mỗi người…

Hoạt động của Tiềm Thức không những chỉ chi phối  phần thể chất,  nó còn là  nguồn sức mạnh và sự minh triết  vượt xa trí  năng  tức những hiểu biết, kiến thức  của con người trong mọi lãnh vực, kể cả triết/thần học. Dẫu vậy, nguồn sức mạnh ấy chỉ có thể  được khai thông qua  Con Đường Đức Tin   thôi. Đức Tin là nền tảng của tôn giáo, Luận Đại Trí Độ nói: “ Phật Pháp như biển cả rộng, sâu, phải có lòng tin mới có thể vào”. Riêng với Đạo Công Giáo Đức Tin được coi là một trong 03 Nhân Đức Đối Thần: Tin – Cậy – Mến. Đức Tin chân thật  cần được hỗ trợ bởi hai nhân đức Cậy và Mến.

Đức Tin là điều trọng yếu thế nhưng nó sẽ không hoàn tất được gì nếu không có việc cầu nguyện như là một chất xúc tác cần thiết. Chính Chúa Giê Su cũng luôn cầu nguyện và phó trót sinh mạng mình cho Đấng Cha của Ngài.  Đức Mẹ nói:“ Mẹ là Mẹ của chúng con, Mẹ muốn dạy chúng con một điều  rất quan trọng: Thế nào là Yêu ? Chúa Giê Su đã có thể  cầu nguyện không ngừng vì Ngài yêu mến Chúa Cha  và khát khao cứu rỗi các linh hồn” ( Thông Điệp của Đức Mẹ gửi những người Tận Hiến ).

Đức Tin cần gắn với  sự kiên trì cầu nguyện và  chính sự kiên trì ấy  khiến cho Ý Thức  có được sự…nên một tức đồng nhất với Tiềm Thức là khu vực vốn dĩ mờ mịt, sâu thẳm,  khó thể nhận biết. Sự đồng nhất ấy chính là một thứ trực giác chỉ có ở nơi những tâm hồn  thơ trẻ, bởi đó cho nên khi  truyền đạt Mầu Nhiệm Nước Trời, Chúa Giê Su nói: “ Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, hễ ai chẳng nhận lấy Nước Trời   như  một  con  trẻ  thì không thể vào được  nơi  đó” ( Lc 18, 17 ).

Chúa nói… nên như  con trẻ, điều ấy không có nghĩa  chúng  ta phải trở nên những kẻ ngu ngơ, khờ dại nhưng là những   con người  tín thác, đầy lòng cậy trông nơi Chúa, làm tất cả nhưng không chấp  trước vào việc mình làm. Tín thác trong cầu nguyện tức là tin mà không một chút hồ nghi về điều mình xin sẽ được nhậm lời:“ Thế nên, Ta nói cùng các ngươi, các ngươi cứ xin sẽ được, cứ tìm sẽ gặp, cứ gõ sẽ được mở cho. Vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gõ  thì  được mở cho. Trong các ngươi có ai làm cha mà con xin bánh  lại cho nó cục đá  chăng ? Hoặc  xin cá lại cho nó con rắn  chăng ? Hoặc  xin quả trứng lại cho nó con bọ cạp chăng ? Vậy nếu các ngươi vốn là  xấu  mà còn biết cho con cái mình quà tốt, huống chi  Thiên Phụ các ngươi lại không ban Thánh Linh cho ư ?” ( Lc 11, 9 -13 ).

Thông thường chúng ta cầu nguyện để xin ơn này ơn khác cho mình, cho gia đình mình. Điều ấy không có gì đáng trách, thế nhưng  Ơn cần thiết nhất  Chúa muốn chúng ta xin đó  là Ơn Soi Sáng của Chúa Thánh Thần để biết  cách  sống đạo Làm Con Chúa. Có ơn ấy là có tất cả, còn  không có ơn ấy, dù  mang danh  trí thức này nọ thì vẫn còn sống  mãi trong mê lầm, điên đảo !

Trong cầu nguyện luôn bao hàm 02 yếu tố, một là Cầu, hai là Nguyện. Cầu là cầu xin, còn Nguyện là nguyện Danh Cha  Cả Sáng  hầu được về  sống cùng với Chúa Giê Su, Đức Mẹ và chư thần thánh trên Cõi Vinh Phúc Thiên Đàng. Chính cái Tâm Nguyện ấy  sẽ khiến cho ta  vượt qua được những gian nan, thử thách, những cám dỗ trong cuộc đời. Trái lại, nếu  chỉ có Cầu mà không Nguyện thì việc Cầu ấy, không  phải  để thực thi Thánh Ý Chúa mà là theo Ý Riêng mình…

Thánh Ingatio De Loyola, đấng sáng lập Dòng Tên, đã chỉ trích mạnh mẽ  thói cầu nguyện chỉ theo Ý Riêng mình:“ Nhiều kẻ chuyên việc nguyện ngắm, thế mà ít kẻ Nên Thánh là vì cũng ít có kẻ  chăm chỉ dẹp mình. Trong số một trăm kẻ nguyện ngắm  thì hơn chín mươi người chỉ nguyện, ngắm theo ý riêng. ( Thánh An Phong – Kẻ Nữ Tu Thánh Thiện ).

Kinh Mân Côi  do Đức Mẹ truyền dạy với cấu trúc đặc biệt của nó mục đích là để cho  ta  từ bỏ Ý Riêng hầu vâng theo Thánh Ý Chúa. Việc từ bỏ ấy cũng chính là để thể hiện sự ước muốn được về Thiên Đàng của ta. Ước muốn ấy đã được thánh Bernadette thể hiện thể theo lời hứa của Đức Maria: “ Mẹ không hứa là con sẽ được hạnh phúc ở thế giới này nhưng là ở một thế giới khác” Vị thánh trẻ, hết sức đơn sơ, chất phác nhưng  tràn đầy lòng tin này đã vững tin vào lời hứa ấy trong những giây phút cuối cuộc đời mình:

“ Ngày hôm sau, cha tuyên úy vào thăm, ngài khuyên chị nên dâng sự sống mình  cho Chúa làm của lễ. Chị ngạc nhiên  trả lời: Thưa cha, từ giã cuộc đời này là một hy sinh sao? cuộc đời mà ta phải cố gắng lắm  để khỏi làm mất lòng Chúa và là một nơi chốn  mà ta gặp biết bao trở ngại  ư ?…

…Dĩ nhiên, đâu phải là một sự hy sinh để từ giã cuộc sống trần gian này để về hưởng Nhan Thánh Chúa muôn đời…Còn con, Marie Bernard, con chưa hề  nhìn thấy Chúa nhãn tiền, nhưng con cũng đã  có chút kinh nghiệm thế nào là vẻ đẹp của Mẹ Thánh Ngài…

…Dạ phải, chính cái kỷ niệm đó an ủi con và làm cho con  tim con  tràn trề hy vọng”

Một hôm có một nữ tu  trong Dòng  nói với chị như có ý để an ủi: Sau Thương Khó là Phục Sinh, sự sống bắt đầu  và chị cũng sẽ  bớt đau hơn. Bernadette trả lời: Sự thương khó của em  thì sẽ kéo dài cho đến khi  em chết. Nhưng rồi có người nghe chị thầm thĩ: “ Về trời, về trời ! Người ta nói: Các thánh  không lên thẳng Thiên Đàng vì họ không mấy khát khao, còn  em, không phải như vậy” ( Phê Rô Maria Phan Hữu Lộc – Thánh Nữ Bernadette Lộ Đức – Sứ Giả Tình Thương )./.

Phùng  Văn  Hóa 

Chia sẻ Bài này:

Related posts